CHƯƠNG 10 (TT)

Vừa đi tôi vừa nghĩ đến những chuyện xảy ra ở nhà sau khi tôi bỏ đi… Chắc chắn mọi người sẽ xôn xao, bố mẹ tôi cuống lên khi xem lá thư để lại. Bố thì không biết sao nhưng chắc mẹ sẽ khóc. Tôi biết mọi người trong Hội Thánh đều ghét tôi, vì thế họ ghét luôn cả bố. Nếu bố thật sự có ơn, tại sao không dạy nổi con mình, như vậy còn giảng dạy cho ai được. Có một lần bố đã bảo, biết đâu họ nói đúng!

Dù tôi đã tin Chúa nhưng không ai đếm xỉa đến điều đó. Đối với họ, việc tin Chúa đâu có gì quan trọng, đâu phải là một biến cố đáng lưu tâm. Tôi biết họ suy nghĩ thế vì họ chưa có kinh nghiệm thật thế nào là tin Chúa. Những thành kiến xấu của họ về tôi vẫn y nguyên, nghĩa là mỗi khi có chuyện nghịch ngợm nào xảy ra họ đều nghĩ tôi là thủ phạm. Bao nhiêu trách mắng, oán ghét lại đổ lên cho tôi.

Tôi không biết mình phải đi đâu lúc này. Không biết mình có đủ tiền tiêu không? Còn nơi ăn chốn ở ra sao? Không lẽ cứ lang thang thế này suốt đời ư? Ý niệm thời gian còn rất lờ mờ trong tôi, tôi chẳng biết tối nay là thứ bảy hay Chúa nhật nữa.

Một chiếc xe chạy tới, tôi vội nấp sau một gốc cây tránh ánh đèn. Giờ nầy mà còn có người lang thang ngoài đường làm gì không bị nghi ngờ. Bỗng dưng tôi cảm thấy như mình đang phạm tội. Tôi nhớ đến câu bố vẫn thường hỏi: “Nếu Chúa có ở đây, Ngài sẽ làm gì?” Tôi đặt câu hỏi đó cho mình tôi. Chúa sẽ làm gì? Ngài sẽ đi trốn như tôi, hay Ngài sẽ can đảm ở lại, đối diện với bất cứ nghịch cảnh nào? “Chúa ơi con thuộc về Ngài, xin đoái thương và chỉ cho con biết phải làm gì?”

Tôi đến nhà thờ lúc nào không hay, ngôi nhà thờ nằm trên cao, bé nhỏ nhưng yên tĩnh và đẹp vô cùng, trách gì ai cũng thích. Nơi đó có một cái gì trang trọng, bình thản trước cuộc đời. Lúc này đối với tôi, ngôi nhà thờ lôi cuốn lạ lùng, tôi nghĩ mình nên đến thăm nó lần cuối. Đi về vòng phía sau, lách qua cánh cửa nhỏ quen thuộc , tôi bước vào trong. Nhà thờ tối om, những hàng ghế mập mờ trong đêm, tôi thấy hơi lạnh nhưng không còn sợ nữa. Cây thập tự trên tòa giảng làm lòng tôi bớt cô đơn, “Chúa ơi, con đang đến núp dưới bóng Ngài”. Những giọt nước mắt âm ấm lăn dài trên má, tôi thấy bỏ trốn quả là một lầm lỗi lớn. Cũng một đêm nào đó trong vườn Ghết-sê-ma-nê, Chúa Giê-xu cũng phải chiến đấu trong cô đơn như tôi, Ngài can đảm để đi tới chiến thắng. Ôi, nếu Ngài bỏ trốn, thì nay làm sao tôi được cứu? Tôi mệt mỏi, hai mí mắt cứ sụp xuống vì buồn ngủ. Từ trước đến nay, chưa bao giờ tôi thức khuya như vậy.

Phía sau nhà thờ là căn gác xếp, nơi bố mẹ dùng làm phòng cầu nguyện hồi mới đến Hội Thánh này. Bố thường mời tín hữu đến cầu nguyện mỗi tối nhưng không hề có ai đến bao giờ, vì thế buổi nhóm cầu nguyện của Hội Thánh không có, và đến nay căn gác đành bỏ trống. Tôi lần mò tìm lối lên gác. Tôi mệt mõi muốn nghỉ ngơi một chút, muốn tìm gặp Chúa, muốn thưa với Ngài tất cả những nặng nề của lòng tôi.

Mở cửa nhưng không dám bật đèn, tôi đứng yên một tí để mắt quen với bóng tối, quì gối cầu nguyện bên cái băng dài, tôi thấy buồn ngủ quá chừng, “Lạy Chúa yêu quí, lòng con nặng nề, con đã mất sự bình an vui vẻ hằng ngày. Con thấy bỏ đi thế này là làm đau lòng Chúa và bố mẹ con, nhưng còn giải pháp nào đâu, con làm gì bây giờ nếu không đi trốn ? Chúa ơi !…”

Tôi không biết mình đã cầu nguyện bao lâu, chỉ nhớ đã khóc rất nhiều, sau đó tôi thiếp đi trong căn gác tối, thổn thức, nhọc mệt.

( Còn Tiếp…)

————————————————–